Cầm tờ giấy cô giáo phát, tôi đọc đi đọc lại đề bài. Hãy viết, dưới dạng tiểu sử, về Cnhững chặng đường trong hành trình nhận thức giới tính của cuộc đời bạn. Trong trí tôi vụt hiện lên hình ảnh đứa con gái để tóc demi-garcon suốt bao nhiêu năm ròng rã, mái tóc mà khi đến tuổi tròn trăng nó đã không ngại tuyên bố trong đám bạn bè thân thiết: “Đây là tóc thề… Thề không để quá vai!”, kèm theo đó là một tràng cười… ngạo nghễ! Đứa con gái ấy, trong những năm tháng ấu thơ- khi còn học lớp năm trường tiểu học gần nhà, đã chỉ thích đóng vai hoàng tử; vào những tuần lễ se lạnh hiếm hoi trong vùng khí hậu nhiệt đới ở Sài gòn vẫn thích mặc chiếc áo lạnh chui đầu màu đen để được mạnh mẽ sánh đôi cùng nàng công chúa của nó-nhỏ Ngọc Bích- vốn thích mặc chiếc áo len màu cốm bừng sáng giữa sân trường. Cũng đứa con gái ấy vẫn không ngại ngùng dùng những ổ bánh mì cỡ lớn được phát trong giờ ra chơi(1) để làm…vũ khí choảng nhau với tụi con trai, nếu như tụi này có lỡ buông lời chọc ghẹo “công chúa” của nó! Chiếc máy thời gian đang chầm chậm quay, đưa tôi về dĩ vãng xa xôi…
Đầu hè năm 1973 tôi được má quyết định cho đi học “Giải đề thi Đệ Thất môn Toán”, để chuẩn bị thi vào trường Gia Long-một trong hai trường nữ lớn nhất, và cũng khó đậu vào nhất-ở Sài gòn. “Thi vô trường này, con phải một địch ba trăm, khó lắm đó, nên phải đi học thêm con à”-má tôi nói. Ở lớp học thêm này tôi, lần đầu tiên trong đời, được học với thầy (suốt năm năm tiểu học tôi toàn học với Cô), một người thầy mà tôi phải… công nhận là đẹp trai, và ngạc nhiên thấy mình cứ run như cầy sấy mỗi khi bị - hay được?- gọi lên bảng giải toán. Chính ở lớp học thêm này tôi đã lờ mờ nhận thấy, để là cái gì đó trong mắt bọn con trai, và trong cả mắt thầy, hình như là giỏi toán và… nỏ mồm không thôi cũng chưa đủ (!). Hành trình nhận thức giới tính của tôi như thế đã bắt đầu với không ít hoang mang, chao đảo: hình như tôi có hơi ít những đặc trưng truyền thống của cái gọi là nữ giới. Tôi không biết chăm sóc dáng vẻ bên ngoài, đã đành; mà cũng không màng tới chuyện cẩn trọng mỗi khi giương cao cái nỏ mồm tôi…
Ngày có kết quả thi lớp sáu. Chú tôi đi dạy về khuya, ngang qua trường GL thấy có kết Nquả đã ghé vào coi trước, rồi vui mừng chạy về báo tin tôi đậu hạng 31 (hẳn vì đây là một trong những chiến tích hiếm hoi của đời tôi nên còn được nhớ chính xác tới tận bây giờ!). Hôm sau tôi được ba chở đến trường để được tự thân thưởng thức cảm giác bảng vàng đề tên. Chen chúc trong đám đông, sau khi nhìn thấy tên mình trong gần cả ngàn cái tên khác, tôi còn đang ráng tìm tên “công chúa của tôi” thì… chợt giật bắn người. Một bàn tay ai đang dò dẫm phía trước thân tôi, giữa hai đùi. Tôi giận dữ quay phắt lại. Lố nhố đông người quá, ai nấy đều đang chăm chú dò đọc tấm bảng chi chít chữ. Không thể nhận biết được thủ phạm, tôi quay lại bảng kết quả. Lại bàn tay ấy. Bực tức, hoảng sợ, và tuyệt vọng, tôi chui ra khỏi đám đông, kêu to, “Ba ơi, mình đi về đi! Con coi xong rồi!”. Những “bực tức, hoảng sợ, và tuyệt vọng” ấy đã không hề được sẻ chia, cho đến khi thử chiếc áo dài trắng đầu tiên trong đời, nhìn thấy mình trong gương quá mềm mại –mà tôi lúc đó thấy nó đồng nghĩa với yếu đuối, nên đã đột nhiên vói tay úp chiếc nón kết lên đầu. Tôi muốn mình phải, ít nhất cũng phải có vẻ, cứng rắn và mạnh mẽ hơn… Chiếc nón kết cứ thế đã đi theo tôi, theo những bộ áo dài trắng mềm mại tha thướt trong nhiều năm, mặc cho có lúc đã bị chê rằng nó quá “con trai”, không hợp với áo dài!
Trong ngôi trường rộng lớn, những tình bạn tươi mới nở hoa khiến tôi và công chúa TNgọc Bích năm nào, dù tình cờ vẫn được học chung lớp sáu, không còn thắm thiết như lúc khi xưa ta bé nữa. Tôi nay thấy mình thích bảo bọc chở che hai nàng công chúa khác: Hồng Đào nhà ở tuốt trong Chợ Lớn, và Phạm Thị Hiền, sống ở khu gia binh Trần Nguyên Hãn gần chợ cá Trần Quốc Toản. Học buổi chiều, chúng tôi có vài buổi sáng trong tuần được tới trường học bơi, và đó cũng là những lúc tôi được dịp ngơ ngẩn ngắm “các chị” thướt tha trong sân trường(2). Trông họ thật duyên dáng, thật thiếu nữ, mà cũng thật xa vời biết bao đối với tôi, đứa gái nhỏ thích đội nón kết! Tôi cũng có dịp được trông thấy một cô giáo, không biết sao tôi cứ tin đó là cô, dù trang phục của cô không giống với những cô giáo khác vốn chỉ mặc áo dài tới trường. Vị cô này lúc nào cũng sơ mi-giày tây và cặp da, đi thẳng lưng, chân bước sải, rất nghiêm trang. Tôi không hề được học với cô, chỉ biết cô không giống các cô giáo khác, và tôi hồn nhiên chấp nhận sự không giống ấy, tự nhiên như tôi đã từng chấp nhận loài hoa lạ lần đầu tiên được thấy trong sân trường-loài hoa là hoa mà là lá, những chiếc lá với nửa trên màu đỏ đậm, chỉ thành hoa mỗi dịp tiết trời se lạnh độ năm tàn - hoa trạng nguyên. Một vài năm sau năm 75, tôi nghe nói cô đã đi vượt biên với một chị học lớp 12. Rồi vài năm sau nữa lại có tin cô đã sang Thái Lan để giải phẫu…
Cuối năm lớp 7, tháng ba năm 1975. Tôi ngơ ngác nhận biết nỗi mất mát đầu đời trong Ctình bạn: nhỏ Phạm Thị Hiền, nàng công chúa của tôi, xinh xắn hiền lành như chính cái tên, nay thôi không thấy tới lớp nữa, như nhiều bạn khác. Hai từ “di tản” được chúng tôi nhắc tới thường xuyên hơn, nghe vừa mông lung đáng sợ, vừa thôi thúc gọi mời… Trí nghĩ non nớt không cho phép tôi hiểu gì nhiều, chỉ biết chiến tranh và những thay đổi lớn lao đang diễn ra xung quanh mình, trong bạn bè-trường lớp và trong gia đình mình. Lúc đó, tôi thường thấy ba tôi ngày nào cũng trở về từ Bộ Tổng Tham mưu gần sân bay Tân Sơn Nhất-nơi ông đang làm việc với tư cách là một sĩ quan truyền tin. Ba sẽ gọi anh hai tôi leo lên chiếc mô-by-lét để ông chở ra bến tàu, trong khi đó ở nhà tôi thấy má lấy mấy bao bột mì Sakybomi cắt thành những túi, “cho 9 anh em mỗi đứa một cái đi đường”, má nói. Thế nhưng cơ hội di tản không bao giờ đến với gia đình tôi, và từ đó trở đi là bao tang thương liền với sóng gió. Má tôi lâm bệnh rồi mất mùa hè năm 76, lúc ba còn đang ở trong trại tù “cải tạo”. Chín anh em tôi, chị hai lúc đó vừa học xong năm cuối Dược khoa, thằng út mới chín tuổi, sống với bà nội. Trừ hai đứa con trai nhỏ nhất -chín và mười một tuổi- còn thì cả nhà đều tuôn ra đường, xoay đủ mọi cách để kiếm sống. Cuộc sống thiếu trước hụt sau khiến tôi không sao duy trì nổi niềm kiêu hãnh “áo dài tới cùng” mà tôi đã hùng hồn đứng trước lớp khởi xướng trong những ngày đầu năm học mới “dưới mái trường XHCN”, như một cách chống lại những bộ bà ba trong lớp mà chúng tôi khinh miệt gọi là “tụi văn công” (vì họ thường tham gia sinh hoạt và biểu diễn văn nghệ trong trường). Những ngày trong tuần với áo dài đến trường ít dần, ít dần rồi mất hẳn, nhường chỗ cho áo cánh trắng. Những áo cánh trắng ấy, sau này hóa ra lại trở nên rất hữu dụng: với chiếc phù hiệu “Trường Phổ thông Trung học Minh Khai”, trên những chuyến xe đò nêm chật cứng hành khách và hàng hóa, tôi nghiễm nhiên được công an địa phương cho qua, không bị xét hỏi hạch sách gì… cùng với những bao than đước đem về SG bán kiếm lời từ Sông Bé (nơi ba tôi, vốn vừa trở về từ “trại cải tạo”, đã bị buộc phải đến đó cất chòi, khai hoang trồng khoai mì, sau khi ký giấy “tình nguyện đi xây dựng vùng kinh tế mới”).
Cuối hè 1976, chuẩn bị vào năm lớp 9, trường chúng tôi, cùng nhiều trường trung học Ckhác trong thành phố, phải tập trung nhiều ngày trong tuần ở sân vận động Thống Nhất để tập luyện nghi thức cho ngày 2/9. Với nhiệm vụ xếp hình - ngồi trên khán đài cầm những tấm bìa có vẽ màu giơ lên để ghép lại thành những hình ảnh, biểu ngữ được định trước-trong khi những trường khác đứng trong sân thao tác đồng diễn, nhóm bạn ma quỷ của tôi (gồm có Hồng Đào, Kim Oanh, Huế Xuân) tha hồ chấm điểm… các nam sinh bên dưới. Chấm, rồi chọn, rồi… theo dõi người ta ra bãi đậu xe… để hôm sau… chờ ở ngã tư ngay trước khi tới bãi đậu xe, đi theo người ta vào bãi giữ xe, nấn ná chờ người ta vừa đi khỏi là nhanh tay kẹp ngay vào ghi-đông những mẩu giấy chọc ghẹo vui vui. Những buổi học năm lớp chín do vậy tràn ngập những tờ giấy nháp để… bói tên-xem hai cái tên nào hạp nhau nhất, có khả năng bền lâu với nhau nhất (?); hay những mẩu giấy với những câu mật mã kiểu như “cờ lờ ờ tờ nhờ cờ lờ quờ” hay là “cờ rờ ờ tờ nhờ cờ rờ quờ” (giải mã: “ca-lô ơi ta nhớ ca-lô quá”, “ca-rô ơi ta nhớ ca-rô quá”: ca-lô là bí danh được đặt cho chàng trai hay đội nón ca-lô, còn ca-rô là bí danh của anh chàng mặc áo carreaux trong buổi chấm điểm đầu tiên!). Lúc đó phòng học lớp 95 của tôi khá đặc biệt. Nó nằm ở cuối dãy hành lang đường Bà Huyện Thanh Quan, góc Điện Biên Phủ (Phan Thanh Giản cũ) và không có cửa ra vào riêng, muốn vào lớp phải đi xuyên qua lớp 94 nằm phía ngoài. (Thế mới khốn khổ cho con dân 95 nào lỡ đi học trễ, khi giáo viên lớp bên ngoài đã vào lớp!). Thực ra thì nó cũng có cửa riêng, nhưng đôi cánh cửa này-không hiểu vì lý do gì-đã được đóng chặn lại, không sử dụng. Biết bao lời đồn đại về những gì ở phía sau đôi cánh cửa đó. Nào là đó là phòng nội trú của trường Áo Tím năm xưa, những nữ sinh ở trong đó đã bị phát hiện mang… chuối vào phòng để chơi với nhau (?!) nên nhà trường cho đóng luôn căn phòng đó để răn đe. Nào là vào năm một ngàn chín trăm hồi đó có một nữ sinh Gia Long lỡ yêu… ông thầy đẹp trai của mình, khi biết thầy đã có gia đình, và quan trọng hơn là khi những bài thơ tình gửi đi không hề được đáp lại, nàng đã tìm tới buồng cầu thang khuất nẻo này để treo cổ tự vẫn v…v… và v… v…
Cuối năm học đó, trong một đêm lửa trại tổ chức tại trường, những đứa sư phụ của ma quỷ nào đó đã…nạy tấm ván đóng chặt đôi cánh cửa ấy ra, để rồi vừa xô nhau tháo chạy vừa la hét bằng thứ âm thanh đinh tai nhức óc đặc trưng của giới tính… Cái đứa tôi- đứa con- gái-hay-ra-vẻ-thằng, cũng chỉ kịp thấy một vòng dây đen bỏ lửng lơ cao bên trên, rồi cũng… chả bao giờ dám héo lánh tới đó lần nữa, nên cũng không sao xác quyết được quả đó là một đoạn dây thòng lọng, hay chỉ là… mạng nhện lâu ngày. Để rồi mãi nhiều năm sau này, mỗi khi tâm không được bình an, trí ngập những hoang mang bất ổn, thế nào những dãy hành lang hẹp, đôi chỗ mờ tối, của ngôi trường xưa cùng gian buồng cầu thang với đoạn dây treo lơ lửng ấy sẽ lại về trong những giấc mơ của tôi… Cũng năm học này, chỗ sân trường mà lớp tôi hay đứng xếp hàng trước khi vào lớp có một cây tràm bông vàng khá đặc biệt. Cây không cao lớn lắm, chỉ nhỉnh hơn đầu người chừng một sải tay, nhưng cành lá lòa xòa phủ xuống chiếc ghế đá kê dưới gốc cây, tạo thành một chiếc hang lá rất riêng tư và vô cùng thơ mộng. Chúng tôi hay hẹn nhau đi học sớm để giành trước chiếc ghế ấy, rồi cả lũ 5, 6 đứa chui vào trong ấy, giở những cóc, xoài, mận, ổi ra vừa ăn, vừa cười giỡn, chọc ghẹo, cấu nhéo, la hét… om xòm. Thi thoảng có những giờ ra chơi, có khi vì những cơn đau bụng theo trăng, có khi vì những nỗi buồn vơ vẩn “tôi buồn không hiểu vì sao tôi buồn” khiến tôi không muốn xuống với chúng bạn mà chỉ đứng trên hành lang nhìn xuống. Chiếc hang lá với thấp thoáng đôi bóng áo trắng quyến luyến bên trong không khỏi khiến hồn tôi mới lớn ngập tràn những mộng mơ xao động…
Hè năm 77 của tôi trôi qua nơi bến xe đò Chợ Lớn, ở đó tôi và chị kế tôi hàng ngày thay phiên nhau ngồi bán thuốc lá lẻ. Năm đó chúng tôi phải qua hai kỳ thi, một tốt nghiệp lớp 9, một chuyển cấp lên lớp 10. Giữa bến xe đò nhộn nhạo đông đúc đủ loại người, xung quanh lúc nào cũng nồng nặc mùi khói xe xăng dầu và mùi nước tiểu, mùi rác, với chiếc nón vải Thanh niên xung phong xin được ở đâu đó úp trên đầu, tôi cắm cúi giải những bài tập toán. Ngày đầu năm học mới, đứng giữa sân trường thân thương, còn đang ngơ ngác tìm kiếm bạn cũ “bè lũ 95” - thì, huỵch, một cú đẩy thật mạnh khiến tôi loạng choạng… rồi đổ nhào giữa những tràng cười nghịch ngợm. “A, nhỏ Hà này, hè rồi toàn ăn bo bo không à tụi bay ơi!” Tôi trừng mắt nhìn, Thùy Phấn-một đứa bạn hồi lớp 9 vốn dĩ rất nhỏ con, qua một mùa hè bỗng trổ giò cao nghệu: “Sao mày biết tao toàn ăn bo bo?!” Thùy Phấn tỉnh bơ, “Thì xô một cái là mày đổ nhào, không ăn độn thì… ăn gì?” Biết ra đây cũng lại là một trò đùa xỏ lá kiểu khôi hài đen rất phổ biến lúc bấy giờ, tôi bèn phản pháo, “Còn mày, trắng trẻo to bự ra như vầy, chắc chắn là do… ăn toàn bột mì!” Lại một tràng cười nữa. Hồng Đào nắm tay tôi, “Hè đi đâu mà đen nhẻm vậy mày?!” Không muốn bạn bè biết nghề nghiệp mùa hè của mình, tôi giơ cao chiếc nón vải, “Tao đi Thanh niên xung phong!” Cả đám nhao nhao. Đứa thì, “Mày xạo, chưa đủ 16 tuổi ai cho đi.” Đứa thì, “Cần gì đủ tuổi! Khóa mình năm nay có mấy đứa Đoàn trường3 tình nguyện đi hồng quân4 kìa!” Tôi ngạc nhiên, “Ủa, tụi nó đi rồi bỏ học à?” “Thì đi bộ đội về đương nhiên được nhiều ưu tiên, lo gì chuyện đó, mày!”. Tôi le lưỡi, “Em…chã!”5 Cả đám cười rần rần. Một đứa bỗng đổi đề tài, “Ê, mày biết tin gì chưa, năm nay cô Tỵ phải chấp nhận cho nam sinh vô học đó!”. Tôi ngạc nhiên, “Hả? Cái gì? Cho con trai vô học trường mình hả? Rồi tụi nó học lớp riêng hay là sao? Rồi còn… toa-lét nữa… thì sao?” Huế Xuân vói tay kéo đám lá tràm bông vàng đang phe phẩy trong ngọn gió nhẹ đầu thu, vừa vò nhẹ và đưa lên mũi vừa nói, mùi tinh dầu từ tay nó thoảng nhẹ trong không khí thật dễ chịu, “Mày đúng là… Mục đích người ta muốn cho nam nữ bình đẳng nên mới bắt buộc trường mình phải nhận nam sinh. Nếu nhận vô mà cho tụi nó học riêng thì cũng như không, hiểu chưa!” Nhỏ Hồng Đào đập tay Huế Xuân, “Cái con này! Coi chừng cái ổ kiến vàng kia kìa, mày kéo cành lá nó động ổ văng tung tóe ra là tiêu cả đám nghe mậy!” Tôi nhìn theo hướng tay Hồng Đào chỉ. Ở đó những chiếc lá tràm thuôn dài đang được đám kiến vàng to bự bận rộn kéo kết lại, tạo nên một túi lá, trông rất hay nhưng cũng không kém phần đe dọa. Những khi thơ thẩn trong sân trường, tôi thường thích dõi tìm những túi lá-ổ kiến này. Chúng luôn mang đến trong tôi vừa niềm ngạc nhiên kính phục, vừa nỗi thấm thía với tinh thần cộng đồng của loài sinh vật nhỏ bé mà con người cũng cần phải học lấy. Tiếng Hồng Đào tiếp tục câu chuyện nhắc tôi trở về với thực tại, “Còn cái vụ toa-lét, nhỏ H. mày khỏi có “no”, để nhà nước “no”6, đương nhiên nhà trường phải sắp xếp chuyện đó chứ!” “Như vậy bữa nay tụi nó có làm lễ khai giảng với mình luôn chưa?”, tôi hỏi, rồi vừa đổi hướng mắt nhìn ra con đường trải nhựa từ cổng chính vào, thì bỗng… im bặt.
Cả bọn cùng nhìn theo. Một nhóm 5-6 tên con trai, rõ ràng là đang…khớp-vì những bước chân trông như đang quấn lấy nhau (?!)- cùng bước đến chiếc trống trường ở chậu cây trạng nguyên ngay đầu sân trong thì dừng lại, nhìn quanh. Một lát sau, có thêm nhiều nhóm nam sinh khác nữa cũng vừa tới, tất cả đều đứng túm tụm quanh đó. Tiếng cười nói lao xao ở hành lang lầu một ngay phía trên chỗ họ đang đứng khiến tôi chú ý nhìn lên. Đó là dãy lớp mười một. Vài nhóm nữ sinh đứng dọc theo hành lang ấy đang cúi xuống quan sát, chỉ trỏ, (và hẳn là) bình luận về các nam sinh bên dưới. Thốt nhiên tôi cảm thấy má mình như đang nóng lên, mặc dù tôi có thể yên tâm đoan chắc là không đứa nào trong đám quỷ sứ đứng trước mặt tôi nhận thấy, đơn giản vì làn da sạm nắng do một mùa hè bán thuốc lá dạo ở bến xe đò… Đến khi có tiếng loa cô Ánh “Cắc kè bông” cất lên, “Học sinh các em hãy xếp hàng theo lớp, chuẩn bị chào cờ. Riêng nam sinh tạm thời tập trung nơi góc sân trường dọc hành lang đường Ngô Thời Nhiệm;” rồi các nhóm nam sinh nối tiếp nhau đi dọc con đường chính đến chỗ cô Ánh vừa nói thì cái nóng mà tôi đã cảm thấy trên má mình giờ đây như đang òa ra trên khắp sân trường. Những tiếng rì rầm, lao xao trong các hàng nữ sinh đôi khi biến thành một tràng cười như ong vỡ, chắc hẳn do một câu nói tiếu ngạo nào đó. Tôi ngạc nhiên tự hỏi, sao tụi nó có thể bước đi…mà không vấp té chứ khi xung quanh toàn là…yêu nữ như thế này? Bật ý kiến đó ra thành lời, tôi liền được Quế Hương giải đáp théc méc: “Biết đâu được mày, chưa biết ai té trước ai à nhe!” Không biết trả lời sao, tôi lặng thinh, đứng chờ thực hiện những hiệu lệnh của cô Tổng Giám thị để lên lầu nhận lớp. ãy lớp mười năm nay được nhà trường bố trí ở hành lang góc đường Điện Biên Phủ (Phan Thanh Giản cũ) với Trương Định (Đoàn Thị Điểm). Lớp Bê một của tôi nằm gần trong góc. Vừa bước tới tôi đã đọc thấy trên cánh cửa lớp dòng chữ phấn trắng “95 làm một Điện Biên…” Với lối viết như thế này, câu tán tụng của nhà thơ cộng sản đã trở thành một kiểu vênh váo rất học trò, khi 95 của tôi luôn là một trong những lớp đứng đầu trong bảng sắp hạng của nhà trường về mọi mặt, từ học hành, kỷ luật, đến văn nghệ-báo chí và cả…nghịch phá. Năm học ấy các lớp mười được chia thành 3 khối chính dựa trên điểm thi chuyển cấp-ban A là Văn Sử Địa, ban B-Toán Lý, ban C-Sinh Hóa. Kiểu chia và gọi tên này chỉ tồn tại được một năm, sang năm sau chỉ có A, C, và D - không hiểu sao lại không còn ban B nữa. Chúng tôi tự giải thích với nhau, vì B gợi nhớ tới… bò, mà bò thì hay bị cho là… ngu, cho nên người ta kiêng (!) Bè lũ 95 của tôi tan tác- tôi Xê 1 trong khi Hồng Đào vô Xê 5, Kim Oanh Dê 3, Huế Xuân Dê 6. Lớp Mười Bê một (10B1) như vậy hứng lấy khoảng hơn mười đứa 95, trong đó tôi có thể nhận ra nét-chữ-tay-trái của Thúy Phượng nơi dòng thơ ngạo nghễ ghi ngay cửa lớp khi nãy. Mười một nam sinh ngồi sẵn ở cuối lớp, trông lẻ loi ngơ ngác…đến tội (?!). Giáo viên chủ nhiệm năm nay là cô Nguyệt, dạy môn Chính trị, nói giọng nửa Trung nửa Bắc, một giọng nói rất đặc trưng mà cho tới lúc đó chúng tôi mới lần đầu được học với (trong suốt hai năm học sau 75 chúng tôi vẫn còn được học với các thầy cô Gia Long, ở tất cả các môn).
Cô Nguyệt có giọng nói đặc biệt, lại có một kiểu cách rất đặc biệt: cô luôn mặc những chiếc áo dài bà Nhu7, may bằng mút-xơ-lin bông hoa đủ màu-loại hàng này ở SG thời ấy vừa đắt tiền vừa hiếm; và luôn phấn son cẩn thận đậm đà. Tụi tôi thảy đều công nhận là cô đẹp, một cái đẹp sắc và lạnh; nhưng không đứa nào thấy mình “mê” cô, nói gì tới thương hay quyến luyến. Ngoài Ban Cán sự lớp, trong đó tôi vẫn được giao chức “Lớp Phó phụ trách Phong trào, kiêm Trật tự” như hồi lớp chín, gần sáu chục học sinh được chia làm hai tổ chức: Chi Đoàn Thanh niên Cộng sản, bao gồm vài ba học sinh đã “được kết nạp vào Đoàn”, và Chi Hội Thanh niên Học sinh, gồm đám còn lại. Là thành phần năng nổ (năng động và nỏ mồm!) của lớp, trong cái gọi là Chi Hội TNHS ấy tôi cũng được cô Nguyệt giao cho làm Chi Hội trưởng, và đấy chính là khởi điểm của tuổi đôi mươi khi trái tim được trao cho một lý tưởng8. Những bài giảng chính trị lập đi lập lại, những tác phẩm văn học được chọn lựa để đưa vào sách giáo khoa và được dạy dưới cùng một giòng tư tưởng chính trị chính thống… đã thấm dần trong tôi, khiến cho từ những bài văn nghị luận làm trong lớp cho đến những lá đơn “xin gia nhập Đoàn TNCS” đều được tôi viết với tất cả tấm lòng khao khát cống hiến và dựng xây. Oái oăm thay, đó chỉ là một thứ tình yêu đơn phương mà cái-tôi-thơ-ngây lúc ấy không hề chịu hiểu là mình sẽ mãi bị chối từ, hoặc tệ hơn, sẽ bị phụ tình. Khi sinh hoạt hè ở địa phương, đơn xin vào Đoàn TNCS của tôi được phê là, “Tư cách tác phong còn đậm tính tiểu tư sản, cần phấn đấu thêm,” tôi đã lờ mờ cảm thấy, mình không thể nào giống họ, ngay từ một xuất phát điểm đơn giản nhất trong mắt họ, là họ sinh ra và lớn lên trong các con hẻm quanh co tồi tàn ở khu chợ Trương Minh Giảng, trong khi nhà mình ở ngoài mặt tiền (!). Ở trường, với cô giáo Chủ nhiệm dạy môn Chính trị, một lần nữa ba từ “tiểu tư sản” lại được vung lên như một thứ mũ kim cô chụp xuống những đôi mươi trong trắng. Số là, với tỷ lệ 1:6, sức học của các nam sinh trong lớp tôi có vẻ yếu dần, làm ảnh hưởng điểm thi đua của lớp. Cô Nguyệt cho họp Ban Cán sự lớp với Chi Đoàn và Chi Hội thanh niên để bàn về “giải pháp giúp đỡ nam sinh.” Mười một nam sinh được giao cho mười một nữ sinh trong Ban Cán sự lớp và Ban Chấp hành CĐ-CH, thường là những đứa học khá hoặc giỏi, tạo thành những “đôi bạn học tập”. Tôi được giao phụ trách giúp TT-một nam sinh cao gầy, ăn mặc chải chuốt, có nụ cười rất tươi và ánh mắt thì… cực kỳ đằm thắm. Để việc “giúp đỡ” được thuận lợi, cô Nguyệt cho đổi chỗ ngồi để các “đôi bạn học tập” ngồi cạnh nhau. T. học kém, nói chính xác hơn là không siêng học, nhưng chữ viết rất đẹp và bay bướm. Những tựa đề trong vở T. luôn được đề-co cẩn thận bằng loại mực màu cam óng ánh rất lạ, khiến tôi… mê mẩn. Để được giúp đỡ trong học tập, T. thường tới nhà tôi mượn sách vở, đôi khi nán lại tán gẫu khá lâu. Một cái gì đó cứ lớn dần trong tôi. Đạp xe đi ngoài đường, dù khi lang thang một mình hay lúc đang đàn đúm bạn bè, tôi lúc nào cũng như thấp thoáng thấy cái lưng dài và mái tóc bềnh bồng của T. trong đám đông xung quanh. Ở nhà, có lúc tôi ngạc nhiên nhận thấy trong giấy nháp của mình đầy rẫy những từ “Chán”, “Buồn” mà tôi cố thử viết bằng kiểu đề-co của T., cũng như những câu thơ đại loại như, “Trời ơi ngó xuống mà coi/ T. không chịu học cứ đòi…đi chơi…” (!).
Cái gì đó tiếp tục lớn dần, gần như choán trọn tâm trí của tôi dù tôi vẫn biết nó không bao giờ đi tới đâu. T. thường kể với tôi về người bạn gái đã sang Canada, họ vẫn còn liên lạc và T. vẫn đang nuôi hy vọng xuất cảnh gặp người ấy. Nhìn quanh, tôi cảm thấy hình như không chỉ có tôi đang có cái gì đó trong mình. Thanh Trúc xinh đẹp và dịu dàng hẳn, PHương trở nên hay bất chợt cười to, trong khi đó trong lớp bắt đầu râm ran lời đồn “Hôm qua đôi bạn học tập Th.Thủy và TK đi xi-nê với nhau.” TTh là Cán sự Toán, trắng trẻo xinh xắn, hay cười nói liến thoắng bằng thứ giọng Bắc nhanh và giòn nghe như tiếng những viên bi thủy tinh chạm vào nhau. TK thì mắt đen mày rậm, con trai mà da mặt lúc nào cũng ửng hồng, giọng nói nhỏ nhẹ còn mang âm sắc Huế. Không thân với TTh, cũng ít nói chuyện với TK, khi nghe tin đồn ấy thoạt tiên tôi cũng bất ngờ (chẳng gì thì cũng là lần đầu tiên trong đời tôi được nghe thấy chuyện hẹn hò với “người thật, việc thật” như vậy mà!) nhưng thực sự tôi không thấy “đó có thể là vấn đề.” Cho nên khi được cô Nguyệt thông báo sẽ họp lớp về hiện tượng “quan hệ tình cảm ủy mị tiểu tư sản” trong lớp (?!) tôi không khỏi sốc, và có ý nôn nóng chờ nghe. Hôm đó, trong giờ sinh hoạt lớp, đứng trên bục giảng, cô Nguyệt nói rất nhiều về chủ đề này. Cả lớp cúi đầu im lặng nghe. Tôi không biết TK đang ra sao ở dãy bàn cuối lớp, nhưng tôi thấy TTh đang gục đầu xuống bàn, mái tóc đen dài sóng xõa trên đôi vai run run. Những từ “ủy mị tiểu tư sản” được nhắc đi nhắc lại khiến tôi nhớ lúc học về dòng văn học lãng mạn trước 1945, khi cô Hương dạy Văn ngâm nga “Hãy cho tôi một tinh cầu giá lạnh/ Một vì sao trơ trọi giữa trời xa…” và hùng hồn giải thích tính chất “ủy mị tiểu tư sản” của bài thơ và nhà thơ… thì ở dưới cả đám học trò chúng tôi hối hả… ghi lại những câu trích, mà lòng không khỏi phân vân, sao bị chỉ trích nặng nề quá, những vần thơ tuyệt diệu này?! Tôi biết mình phải làm gì đó, nói gì đó, cho bạn, hay đúng hơn là cho chính tôi, cho những đôi mươi đáng thương này… Tôi giơ tay xin phép phát biểu. “Thưa cô, em không nghĩ rằng tình cảm nam nữ là ủy mị hay tiểu tư sản…” Đôi mắt đẹp sắc lẻm của cô quắc lên, “Nói thế là không có lập trường giai cấp…” Tôi thấy giọng mình vang lên cứng cỏi, “Thưa cô, giai cấp nào cũng phải có trái tim và phải biết yêu thương.” Giọng cô Nguyệt vốn ngày thường đã rất đanh thép trong các bài giảng của môn Chính trị, hôm nay lại càng thêm sắc lạnh, “Em nói đúng; nhưng trái tim và tình yêu của giai cấp vô sản phải thuộc về tình yêu cho Đảng cộng sản, chứ không phải thuộc về những mối quan hệ nam nữ bất chính.” Bắt đầu run lên vì giận, nắm chặt hai bàn tay, tôi lớn tiếng, “Thế nào là quan hệ nam nữ bất chính, thưa cô? Hai bạn TTh và TK có làm gì sai?” T. nhét một mẩu giấy vào tay tôi. Nét chữ nguệch ngoạc của P. một người trong bộ ba tam sên của T.: “Mặc chó sủa đoàn lữ hành cứ tiến!”, cùng hình vẽ phác họa người đi tay cầm gậy và một con chó đang ngoác miệng. Vẫn ở tư thế đứng đối thoại với giáo viên chủ nhiệm, tôi vói cây bút, tháu nhanh: “Nếu chó sủa nhức đầu quá thì phải đập cho nó im để mà tiến chứ!” rồi đẩy qua chỗ T… để chuyển đi. Đoạn kết buổi họp lớp ấy tôi không còn nhớ chính xác, hình như có cảnh cô Ng. đập bàn, quát bảo tôi ngồi xuống. Nhưng một điều nhớ mãi khiến tim tôi se lại mỗi khi nghĩ đến là, sau buổi họp ấy TTh không bao giờ tới lớp nữa, và đôi mắt sậm đen của TK cũng dường như trở nên sâu hơn trong suốt mấy năm còn lại ở ngôi trường con gái này.
Số nam sinh trong lớp cứ rụng dần, rụng dần; người chuyển sang trường khác, kẻ vượt Sbiên hay xuất cảnh. Đến năm lớp 12 lớp tôi chỉ còn 3 nam sinh trên tổng số 56 học sinh, là TK, TĐ và T.; các “đôi bạn học tập” đã tự rã tự khi nào không ai để ý. Những xôn xao buổi đầu của tôi, những cái gì đó mà tôi không bao giờ biết được, mà cũng chẳng bao giờ cần biết, đó là cái gì, ở năm cuối cấp này dường như đang lắng xuống, nhường chỗ cho những bận tâm về cuộc thi đại học sắp tới và những nẻo đường tương lai diệu vợi. Cuối học kỳ một, trong lớp chúng tôi rộ lên lối viết lưu bút điền vào chỗ trống, trong đó kẻ được mời viết sẽ được chủ nhân cuốn lưu bút dành cho những câu hỏi và những trang giấy bỏ trống để trút vào đó những suy nghĩ, tình cảm… của mình. Qua cuốn lưu bút của mình (thực ra tôi đã không dùng hẳn một cuốn sổ làm lưu bút mà chỉ đưa các bạn những tờ rời để sau này đóng tập lại sau, mục đích là để người được mời viết sẽ không phải e ngại gì chuyện bị nhiều người đọc được những giòng lưu bút của mình, tôi khởi xướng diễn đàn “Làm sao phân biệt tình yêu với tình bạn trong sáng?” Không như tôi mong đợi, diễn đàn không hề náo nhiệt, các ý kiến đa số chung chung, sách vở; duy chỉ có Thùy Phấn là trách nhẹ tôi vì cách dùng từ, “Tình yêu là tình bạn không trong sáng sao mày?!” Lúc đó tôi thấy bất ngờ vì luôn thấy TP con nít hơn mình (?) nay lại có suy nghĩ chín chắn như thế về một đề tài người lớn như thế. Mãi sau này tôi mới biết TP đã có người yêu, hồi đó tụi tôi gọi là “có bồ”, từ năm lớp mười một-đó chính là anh chàng phụ trách Đội Thiếu niên của nó ở phường. Cuối năm lớp 12 tôi ngạo nghễ trở thành Đoàn viên TNCS. Tôi biết, họ lùa chúng tôi, những đứa học khá hoặc giỏi, vào Đoàn với hy vọng nâng cao tỷ số đoàn viên học giỏi, đậu Đại học, để có thành tích gì gì đó! Cái tính lơ mơ thích “để tâm hồn treo ngược ở cành cây”, cộng với khả năng không thật xuất sắc –nhất là ở môn Vật Lý - để vượt lên trên những đấu thủ khác ở trên cái mức 13 trong bảng xếp loại lý lịch làm thành thứ tự ưu tiên xét tuyển vào Đại học9 đã khiến tôi phải làm “học trò phổ thông” thêm hai năm nữa mới đặt chân được vào trường ĐH, sau khi đã chịu từ bỏ khối A-Toán Lý để theo khối B-Hóa Sinh. Nhưng thôi, đó là chuyện khác. Còn bây giờ, hãy quay trở lại với ngôi trường nữ có nam sinh của chúng tôi… ôi được biết rằng, nhìn chung, với tỷ lệ nam/nữ sinh quá chênh lệch và với lịch sử dài Tlâu của ngôi trường “toàn nữ” này, số nam sinh của khóa đầu tiên đó đến ba năm sau chẳng còn lại được quá nửa, đa số không có gì nổi bật về sức học cũng như hoạt động. Nhưng tôi cũng được biết rằng, trong một số lớp có những nam sinh học khá, có nhiều đóng góp cho các hoạt động của lớp, của trường, để lại nhiều kỷ niệm đẹp của tuổi học trò cho các bạn bè Gia Long-Minh Khai của tôi.
Vài người trong số họ đang sống ở tiểu bang Cali vẫn giữ liên lạc với nhau, và cùng nhau trân quý những hình ảnh thân thương của một thời làm con dân Minh Khai-Gia Long. Một trong ba “người Mohican cuối cùng” của lớp tôi, TĐ, hiện đang ở Houston, Texas, vẫn có những hoạt động đóng góp cho trang mạng du học sinh Việt Nam. TĐ-vốn đang học ở trường Thiếu sinh quân Vũng Tàu vào thời điểm tháng ba/tư bảy lăm-đã có một loạt những bài viết rất sinh động đăng trên trang mạng này về những ngày cuối cùng ấy, và về những xáo trộn cá nhân trong giòng thời cuộc lao lung -từ miền Trung chạy vào SG, vào học trường MK, rồi đi kinh tế mới, rồi vượt biển ra đi10. Năm 2001, khi cháu tôi đậu lớp Mười vào học Minh Khai, tôi đã lo lắng nói với ba nó, “Em sợ cái trường đó có huôn trường nữ, anh cho thằng con anh vô đó sợ không khá nổi!” Anh tôi gạt đi, “Ôi em quá lo! Cái huôn em nói đó đã quá lâu rồi, bây giờ con trai trong đó đầy, có đứa học cũng giỏi chứ có thua kém gì ai đâu!” Tôi còn đang bán tín bán nghi nhưng chưa có dịp để tìm hiểu thêm, thì chỉ vài năm sau đến phiên nhỏ bạn tôi đưa thằng con độc nhất của nó về lại trường cũ (của mẹ) để họp phụ huynh (cho con). Quả thực là, “cái huôn toàn nữ đã trở nên ‘xưa rồi Diễm’”, nhỏ bạn kể lại. “Vô trường, thấy con trai quần xanh áo trắng đi chung với con gái áo dài trắng thành từng nhóm, hồn nhiên nói chuyện, đùa giỡn; nhiều đứa nhìn rất khôi ngô tuấn tú; thấy cũng yên tâm…” Danh tiếng Gia Long-Minh Khai quả vẫn còn đó, vẫn “danh bất hư truyền”, vẫn tạo ra được những nét riêng có bắt gặp được trong những sơ giao, mà khi hỏi ra thế nào cũng nhận được nụ cười ẩn giấu niềm tự hào, “Vâng, tôi đã từng là học trò Gia Long-Minh Khai.”
Tháng 09/2012 NTTH 6/5-C1 (Vienna, VA)
We have 288 guests and no members online