• slide1
  • slide2
  • slide3
  • slide4
  • slide5
  • slide6
  • xn2015
  • xn2016

Article Index

trong một hoạt động tưởng như chỉ là trò vui chơi giải trí của tuổi trẻ mà lại chở được bao điều. Tôi cũng muốn cảm ơn cả… Thúy Nga-Paris Bynight (và những hãng băng dĩa nhạc khác), vì những hoạt động có vẻ chỉ là thương mại của họ ít nhiều đã gieo được những hạt giống truyền thống dân tộc trong các thế hệ đi sau-khi âm nhạc và nghệ thuật tạp kỹ được dùng làm phương tiện để văn hóa nảy mầm và nở hoa. Chương trình của các em trong Hội Sinh viên Việt Nam ở trường UC Davis được xây dựng trên nền một kịch bản xuyên suốt từ đầu đến cuối. Đó là câu chuyện về số phận của một phụ nữ tên Phương ở Việt Nam trước năm 1975 – từ thưở thanh niên với cuộc tình sinh viên trong trắng ngây thơ, đến lúc lấy chồng, rồi chồng bị bắt lính bặt vô âm tín khi cô đang hoài thai đứa con đầu lòng. Đất nước xáo trộn, màu cờ đổi thay, cô quyết định vượt biển ra đi để bảo vệ tương lai đứa bé. Đứa bé ra đời trong trại tị nạn, cũng là lúc cô nhận được thư báo tin người chồng đã bỏ mạng trong một cuộc đụng độ với quân Cam-bốt (?). Phương được nhận tị nạn sang Mỹ, đứa bé lớn lên thành một thanh niên (Michael) đẹp trai, ngoan ngoãn, tốt bụng. Cậu để ý, giúp đỡ, bênh vực và đem lòng yêu thương một cô bạn cùng lớp (Thảo) mới từ Việt Nam di dân sang mà lại gặp nhiều kỳ thị, đố kỵ từ các bạn bè người Việt khác trong trường. Lời thoại của các “diễn viên” theo kiểu Mỹ-Việt xen kẽ, có lẽ do kịch bản cố ý viết như thế để có thể vừa thỏa mãn yêu cầu (tự đặt ra?) là phải nói bằng tiếng Việt, vừa tránh được nguy cơ…kiếm không ra “diễn viên” nếu như dùng tiếng Việt hoàn toàn (?!). Những lời thoại hợp chủng ấy, ngay cả những khi gây cười, cũng thể hiện được sự quan sát tinh tế của lứa tuổi đôi mươi, lứa tuổi mà tự thân nó đã chất chứa bao hoang mang trăn trở. Huống chi những đôi mươi này còn phải chịu nhiều lắm những lần mặt ủ mày chau khi muốn trả lời câu hỏi “Tôi là ai?”, hay khi phải tìm giải pháp dung hòa giữa cái “tôi muốn” với cái…”cha mẹ tôi muốn”. Lắng nghe lời thoại – trong các cảnh đối đáp giữa cậu thanh niên Michael với Phương-người mẹ một thân một mình kiếm sống bằng nghề làm móng để nuôi dạy con nơi xứ lạ quê người; giữa Thảo-cô học trò vừa rời khỏi quê nhà, chân ướt chân ráo bước vào môi trường mới quá nhiều lạ lẫm- với cha mẹ cô, những bậc phụ huynh ngày đêm vất vả, không chỉ để lo giúp con hội nhập và ăn học thành tài mà còn đau đáu mong con vẫn giữ được những giềng mối truyền thống Á đông… ta sẽ thấy, con em chúng ta đã biết tự đặt họ vào chỗ của các bậc cha anh, để hiểu và, do đó, có quyền mong được hiểu, như thế nào. Những nhận xét không chỉ tinh tế khi được gói trong đời sống gia đình với quan hệ cha mẹ-con cái; mà cả ở mức độ quan hệ xã hội, khi các em xây dựng một nhân vật rất phụ-người phụ nữ chủ tiệm neochỗ mẹ của Micheal làm việc. Với tôi, những lời thoại đó gần như một lời cảnh tỉnh, rằng người lớn, hãy nhìn lại cách mình cư xử, với thế hệ con em và với nhau. Nào ai có chút suy nghĩ mà không thấy ngậm ngùi khi nghe nhân vật Thảo thảng thốt kêu lên bằng thứ tiếng Việt không tròn chữ, “Trời ơi, tại sao cùng là người Việt Nam mà lại không thương nhau chứ?!” Và đây nữa, hãy quan sát trang bìa của tờ chương trình. Khi được mở ra, bìa trước và bìa sau hợp lại thành một bức tranh: bìa sau-phía trái bức tranh-là hình ảnh làng quê với mái tranh, cây cau, cánh diều,… và một con đò mong manh đang rẽ sóng xa bờ. Bìa trướcphía phải bức tranh là phố xá thị thành với building, cao ốc, và một phi cơ đang quay hướng về bờ đại dương bên kia, nơi có làng quê và cánh diều nọ. Thông điệp quá rõ ràng đó khiến tôi cứ

We have 5 guests and no members online