• slide1
  • slide2
  • slide3
  • slide4
  • slide5
  • slide6
  • xn2015
  • xn2016

Viết về những Thầy Cô Muôn Năm Cũ...


(Dựa ý thơ của Vũ Đình Liên “Những người muôn năm cũ/ Hồn ở đâu bây giờ...”)

 

Trước hết xin nói về Mlle Félicie Huỳnh Đình Tràng hay Cô Huỳnh Thị Minh Nhựt, Giáo Sư Hội Họa của trường Nữ Trung học Gia Long.


Nhiều học sinh Gia Long cứ xin tôi viết bài về Cô Minh Nhựt-vì tôi là học sinh lớp đầu tiên của Cô khi Cô về trường giảng dạy, kế tiếp tôi dạy cùng trường với Cô và sau này sau khi định cư ở nước ngoài tôi có trở về quê hương thăm mẹ già và đã có cơ hội tìm thăm Cô Minh Nhựt thân yêu của tôi.


Xin được nhắc lại chương trình giáo dục của trường ngày xưa: Lúc tôi vào trường thì vẫn còn chương trình Cao đẳng Tiểu học Đông Dương, học bốn năm tốt nghiệp sẽ thi bằng Thành Chung, thường gọi là bằng “Diplôme” (Diplome d’ Etudes Primaires Supérieures Indochinoises). Cô Félicie, thường được học sinh gọi là Cô Tràng, là giáo sư dạy Hội Họa cho lớp 2e année của chúng tôi niên khóa 1951-1952. Trên lớp 2e année còn có lớp 3e année và 4e année -năm học này là năm tất cả trường đều đổi mới. Chúng tôi nhìn lại thì lớp 1ere année đã bị biến mất, chỉ có học đi tới lên lớp mà thôi. Lúc đó sợ nhất là học dở bị ở lại lớp phải chuyển qua chương trình Việt Nam đang trên đường rộng mở thì sẽ như người lạc hậu vì không nói được ngôn ngữ khoa học bằng tiếng Việt!


Chương trình giáo dục bằng tiếng Việt mở ra rầm rộ tại trường Gia Long với nhiều lớp Đệ Thất, năm sau sẽ mở Đệ Lục, dần dần đến thi Tú Tài toàn phần, đủ cả các ban Văn Chương, Khoa Học, Toán cho nữ giới. Niên khóa 1951-1952, lúc đó chỉ còn ba cấp lớp cuối của chương trình Cao đẳng Tiểu học Đông Dương. Chương trình học bằng tiếng Việt được phát triển, trong khi chương trình học bằng tiếng Pháp bị thu hẹp dần dần. Vị Hiệu Trưởng Việt Nam đầu tiên của trường Gia Long là Cô Nguyễn Thị Châu, Cử nhân Văn Chương và Cử nhân Sử Địa từ Pháp về.


Năm 1950-1951 chúng tôi học vẽ với M me W., một giáo sư người Âu to lớn đẫy đà, tóc vàng mắt xanh, dạy nghiêm và rất tận tâm, nhưng hoàn toàn xa cách với học sinh bản xứ. Cuối niên khóa Bà trở về Pháp trên một chiếc tàu viễn dương hải hành cả tháng trời mới tới nơi. Chúng tôi nghe các Giáo Sư, giám thị và nhân viên của trường nói là Bà W. trên đường hồi hương đã lâm bệnh và mất trên tàu, rồi được hãng Menagerie Maritime thủy táng! Nghe xót xa nhưng thấy ly kỳ và long trọng về cái chết của một người đi dạy học xa nhà... Niên khoá 1951-1952, trường phải mời giáo sư mới về dạy Hội Họa.

CogiaoGL2


Giáo Sư Hội Họa mới là Cô Félicie Huỳnh Đình Tràng. Giáo Sư có tên Pháp, nhưng là một thiếu nữ Việt Nam tuổi độ hai mươi, mảnh mai, yêu kiều, đầy vẻ thùy mị của cô gái miền Nam. Cô có mái tóc dài búi trễ sau gáy, không dùng son phấn, mắt sáng, mũi cao, trang phục áo dài suông không eo thắt, thuờng có màu đậm hoặc điếm những bông hoa nhỏ màu hòa hợp hay tương phản nhẹ nhàng làm nổi bật làn da trắng hồng tự nhiên của Cô. Cổ tay Cô có đeo chiếc vòng ngọc màu xanh trong làm duyên thêm cho bàn tay thanh tú có những ngón thon dài của người nghệ sĩ. Cô mặc áo dài và quần ống rộng dài phết gót, mang dép thấp- tôi không bao giờ thấy Cô bước nhanh, lúc nào cũng thấy Cô bước đi khoan thai, chậm rãi... Ngày đầu tiên tới lớp tôi, Cô chầm chậm bước vào lớp, rồi lên bục giảng. Cô nhìn bao quát cả lớp bằng đôi mắt hiền từ, rồi nói “Asseyez-vous!” Không hẹn mà cả lớp tôi đều đứng sững như bị thôi miên vì lần đầu nghe giọng Pháp nói câu mệnh lệnh mà lại ôn hòa nhỏ nhẹ như vậy. Cô cũng có vẻ giật mình, giống như đâm lo vì sao học sinh không nghe lời mình, nên sau đó cô mở lời bằng tiếng Việt, “Các em ngồi xuống!”
Thế là cả lớp như choàng tỉnh, tất cả cùng ngồi xuống cái rụp! Từ đó giữa chúng tôi và cô bắt đầu tình thầy trò ngày càng thân thiết.


Được người giáo sư hiền đứng lớp, nên học sinh cứ làm ồn nói chuyện không ngớt khiến cô phải nài nỉ, “Các em nói chuyện nhỏ nhỏ thôi nghe, đừng làm phiền lớp kế cận!”


Học hội họa với cô, cứ mỗi tháng 4 tuần lễ, mỗi tuần lại được gặp cô một lần. Cô chia ra cho chúng tôi, tuần đầu tiên là vẽ phác họa, giờ kế là tô màu nền, sang tuần thứ ba vẽ chi tiết hoàn chỉnh và nộp bài, đến tuần cuối cùng cô sẽ phát bài có ghi điểm, lời phê, và cho ghi điểm vào sổ điểm của lớp. Cô dạy rất tận tâm, ngay cả đứa học trò vẽ dở như tôi mà cũng tạo được hình, và biết pha màu từ thô sơ đến đặc biệt, vì cô chịu khó góp ý và chỉ cách pha màu. Tôi không còn phải “giấu” bài đi nữa, mà đã có thể đem ra khoe với chúng bạn vì thấy mình vẽ “cũng không tới nỗi tệ”! Dáng người cô mảnh mai thon thả, cô thường đi lách giữa các hàng ghế để chỉ dẫn cho từng học sinh. Có lần cô đi xuống cuối lớp, không biết bạn nào đã nói gì khiến cô đỏ mặt, phải trở lên bàn giáo sư ngồi.


Có một lần, do chăm chú vẽ, đầu óc thảnh thơi khiến tôi nhớ tới bài kiểm tra sắp tới. Tôi bèn tìm cách xin phép cô đi rửa cọ, thay nước để đi “do thám” tình hình làm bài ở lớp có môn đó trước chúng tôi. Tôi còn nhớ năm lớp 3e anneé, cũng là năm cô đổi qua tên Việt là Huỳnh Thị Minh Nhựt, lớp tôi học ở góc đường Pièrre Flandin (Bà Huyện Thanh Quan). Tôi đi lên cầu thang bằng đá mài, quẹo trái vô hành lang, tôi đi thật nhanh và thật nhẹ qua một số lớp, tay cẩn thận bưng đĩa sơn nhỏ có đựng nước sợ đổ, liếc nhìn vào các lớp 3 khác, rồi đi xuống cầu thang gỗ góc đường Bà Huyện Thanh Quan với Le Grande de la Lirange (Phan Thanh Giản, tức Điện Biên Phủ ngày nay) nhìn vào lớp 3e anneé F, thấy mấy bạn ngồi bàn đầu cắm cúi viết và không nghe tiếng giáo sư giảng bài, tôi biết ngay là có kiểm tra viết. Không cần rửa cọ, tôi đi nhanh về lớp, nói trong hơi thở dốc, “Interro các bạn ơi!” Thế là cả lớp nhao nhao xin cô dời sang kỳ tới hãy nộp bản vẽ hoàn chỉnh, còn bây giờ chúng em xin cô cho phép ngồi ôn bài trong im lặng. Thế là cô phải chịu thua, cho chúng tôi ngồi yêm lặng học bài, vì cô thông cảm nỗi lo phải ăn “trứng vịt” môn Sử Địa Pháp của Mme Delange và Prevoit!


Nhờ cô dạy tận tâm nên tôi đã vẽ được tranh tô màu đẹp, nhưng với môn vẽ bút chì tô bóng thì không mấy thành công. Nhớ có lần vẽ bàn tay, tôi vô phúc vẽ thành bàn tay năm ngón thẳng đơ, trông giống như bảng quảng cáo cho thầy coi bói xem chỉ tay ở các bến xe! Thế nên đến năm Thành chung tôi đã chọn môn nhiệm ý là Nữ công!


Như vậy trong những năm đó tôi đã được học môn vẽ 4 năm với cô Minh Nhựt 2e, 3e, 4e anneé và 2nd MI). Từ cô tôi cũng học được tính kiên trì, nhẫn nại và thương mến học trò của cô.


Thời gian trôi qua…


Năm 1960 tôi được bổ nhiệm về dạy ở trường Gia Long. Gặp cô tôi lễ phép chào hỏi, và cô đã rất vui mừng khi thấy học trò mình nay đã trưởng thành. Câu chuyện trao đổi thầy trò trở nên bớt xa cách, khi cô được biết tôi lập gia đình với một chàng không quân thì cô nói một người em của cô cũng làm việc trong ngành dạy học – tên là Huỳnh Thị Minh Châu- cũng kết duyên với một anh không quân. Tôi đã được thoải mái nói chuyện với cô về cảnh sống của những gia đình có chồng thường phải đi xa, về những nỗi lo lắng trong việc nuôi dạy con cái… Cô thường hay hỏi thăm về các con tôi như một người thân tình.
Năm 1973 con gái lớn của tôi thi đậu vào trường Gia Long và được học vẽ với cô. Đến giờ giải lao trong phòng họp giáo sư cô gặp tôi và khen cháu vẽ khéo, “tô màu đẹp hơn tôi”, trông ngoan hiền, điềm đạm, chứ không “lí lắc” như tôi năm xưa!


Sau năm 1975, cô xin chuyển về dạy ở một trường gần nhà, tôi vẫn tiếp tục ở lại ngôi trường cũ nay đã bị đổi tên… cho đến lúc gia đình tôi xảy đến những biến động về tang khó của cha mẹ chồng thì tôi xin thôi việc. Thỉnh thoảng đi chợ Tân Định tôi vẫn gặp cô.


Năm 1996, sau thời gian định cư nơi xứ người, tôi trở về thăm cha mẹ già. Trong lần về thăm này, tôi có đi tìm thăm những vị cô thầy ngày xưa-trong đó có cô giáo môn Hội họa Huỳnh Thị Minh Nhựt. Gặp lại cô trên căn gác nhỏ tại Phú Nhuận, tôi thấy mái tóc cắt ngắn gọn gàng của cô nay đã pha màu xám bạc, da mặt còn thẳng tuy ánh mắt đã bớt trong, nhưng nụ cười và giọng nói vẫn dịu dàng hiền từ như xưa. Cô nhờ một cháu trai nhỏ chạy đi mua nước đá cho tôi giải khát do cái nắng nóng Sài gòn.


Sau vài câu chuyện trao đổi, tôi xin phép từ biệt và nói em sẽ không bao giờ quên cô. Đáp lại cô khập khểnh đến bên bàn thờ tổ tiên, vói tay lấy trái bưởi vàng cho tôi và nói “Cô tặng em!” Tôi đưa hai tay đỡ lấy trái bưởi thơm vị quê nhà, nói xin phép tặng lại cô, vì còn phải đi thăm nhiều bạn bè nữa. Nghe nói tôi đang đi thăm bạn, cô nói cho cô gửi lời thăm các bạn. Đưa tôi tới cầu thang, cô dừng lại và nói cho cô gửi lời thăm chồng con tôi, nhất là con gái lớn học trò của cô năm xưa. Tôi nói cô đừng xuống thang gác tiễn chân làm gì.


Sau này tôi nghe nói, có một số học trò thương mến cô di chuyển khó khăn nên đã đưa cô về ở một nơi yên tĩnh, thuận tiện đi lại, nhưng lại xa gia đình của cô. Ở đó được một thời gian thì cô xin trở lại nhà cũ để được sống bên người thân cho tới khi qua đời.

 

Cô Huỳnh Thị Kieu Liên
(Giáo sư Pháp văn và Đức ngữ trường Nữ Trung học Gia Long)
Cô Kiều Liên! Nói tới tên cô là tôi hình dung đến vị giáo sư dáng người cao gầy, mảnh mai, lúc nào cũng thướt tha dù không hề tô điểm son phấn, với làn da trắng thật trắng. Cô không mang giày hay guốc cao gót, mà chỉ đi dép thấp. Mái tóc cô đen dài, dợn sóng loăn xoăn lúc nào cũng được búi gọn sau gáy rất thanh lịch. Nhưng nói tới cô Kiều Liên thì phải nói tới những chiếc áo dài đặc biệt của cô: đó là kiểu áo có cổ xẻ giữa, sâu xuống chừng 10cm và được gài bằng những chiếc nút thắt bằng vải. Lúc đó tôi thấy áo dài với nút thắt gài đàng trước rõ ràng là dễ dàng thuận tiện hơn dùng tay trái để gài những chiếc nút bấm nhỏ xíu bên hông phải! Những loại hàng dùng để may áo của cô không bao giờ là loại mỏng hoặc đang mốt, cô chỉ chọn những mình soie với màu đẹp và tha thướt. Sau này coi mấy màn múa thấy nghệ sĩ mặc áo dài múa tôi thường nghĩ tới cô Kiều Liên, người đã từ lâu biết chọn cho mình một kiểu áo dài tiện lợi và có vẻ đẹp riêng, là người đã đi tiên phong trong việc chọn cách mặc áo dài vừa đẹp vừa gọn cho nữ giới! Cô có nụ cười rất tươi, ánh mắt sáng, nói năng khéo léo lịch thiệp, từ ngữ chọn lọc chính xác của người giỏi ngoại ngữ và có tiếp xúc nhiều với văn hóa nước ngoài.
Tôi được biết cô Kiều Liên từ thuở học trung học, lúc đó chúng tôi chỉ gặp nhau ở các kỳ thi như Brevet, Baccalaureat 1ème partie (Tú Tài I), Baccalaureat 2e partie (Tú Tài II). Trong những buổi thi đó, thí sinh thường được sắp xếp chỗ ngồi theo thứ tự alphabet, thì bao giờ cô Kiều Liên cũng ngồi trước tôi. Tôi học trường GL, còn cô học Marie Curie, chúng tôi thường thi ở trung tâm Chasseloup Laubat. Những lúc thi vấn đáp xong có thể nán lại để chờ biết kết quả, chúng tôi thường ra ngồi dưới những cội cây tỏa bóng mát trong sân trường, khiến dù đang ở ngay giữa mùa hè mà vẫn không nóng chút nào!


Sau năm 1960, cả hai chúng tôi cùng xin vào dạy ở trường GL-lúc đó là thời bà Huỳnh Hữu Hội làm Hiệu trưởng. Cô Kiều Liên dạy Pháp Văn, còn tôi dạy Việt Văn. Sau đó cô xin được một học bổng đi Tây Đức học Đức ngữ, khi trở về cô tiếp tục dạy ở trường GL và cả Trung tâm Văn hóa Đức.


Sau 1975, cha cô nguyên là phụ tá Tổng trưởng Bộ Xã Hội phải đi tập trung vào trại “cải tạo” ở Hà Tây. Năm 1979 khi hay tin tôi được phép đi thăm nuôi chồng cũng ở cùng trại thì cô có đến nhờ gửi quà cho cha. Cô nói, lý do cô không thể đi thăm nuôi cha được là vì gia đình cô đang có giấy tờ của nước Đức cho nhập cảnh, chỉ chờ chính quyền CS cấp phép xuất cảnh là lên đường ngay. Vài năm sau cha cô Kiều Liên được trả tự do, một số bạn bè ở trường GL có đến nhà cô ở Thanh Đa để tiễn biệt gia đình cô đi định cư ở Tây Đức.


Sau khi sang Mỹ, tôi có dịp được gặp lại cô Kiều Liên ở Maryland, khi cô sang vùng này thăm em gái cô. Rồi sau đó chúng tôi lại được gặp nhau lần nữa, vào năm 1999, ở tại nhà cô bên Đức, khi gia đình chúng tôi và con gái lớn đi du lịch châu Âu theo lời mời của cô. Đó là một ngôi nhà xinh xắn, trồng thật nhiều phong lan (orchids) và cây cảnh rất đẹp. Cô Kiều Liên hiếu khách đã chuẩn bị sẵn thật nhiều đồ ăn để đầy tủ lạnh, có cả đồ ăn Việt Nam nữa! Cô còn mời thêm một bạn nữa là cô Huỳnh Thị Bạch Loan từ Stuggart đi xe lửa qua chơi. Cô Loan là giáo sư toán của con gái tôi, có tài nấu ăn rất khéo, đi đường xa thế mà cũng mang cả một giỏ lớn đựng đầy đồ ăn như là đi picnic vậy, thật là vui và cảm động. Cô Bạch Loan chỉ lưu lại có một ngày, qua hôm sau chúng tôi phải bịn rịn tiễn cô ra ga lấy xe lửa về lại Stuggart.


Sau đó cô Kiều Liên đã đưa chúng tôi đi xem thành phố Munich, đến thăm cả làng Thế vận Munich 72 nơi có thế vận hội mùa hè đã bị phá hoại, có kiến trúc đặc biệt với cây cột xiên oblique. Chúng tôi cũng đến thăm thành phố Bavière Munich, nhớ tới nơi sinh sống của vua chúa ngày xưa. Chúng tôi được biết sống ở các thành phố của nước Đức phải biết tôn trọng người đi xe đạp, được thấy những chiếc xe hơi Đức “nhỏ xíu”, và có thể đậu song song ngoài đường.
Sau đó cô hướng dẫn chúng tôi đi Berlin, thăm gia đình giáo sư Phạm Ngọc Đảnh-dạy môn Triết, Pháp văn và Đức ngữ ở Petrus Ký, vợ ông là cô Nguyễn Thị Thu Hà cũng là giáo sư Pháp văn cùng trường, còn em của cô là giáo sư toán ở GL. Sau khi định cư tại Đức, các hậu duệ của gia đình hai vị Đảnh-Hà đều học rất giỏi và thành công.


Chúng tôi may mắn tình cờ được gặp cô Nguyễn Thị Thu Vân là người đã đưa gia đình người chị của ông Đảnh từ VN sang thăm em. Giáo sư Đảnh đã đưa chúng tôi đi thăm Tây Bá Linh, nơi vết tích của bức tường Bá Linh đã bị phá. Giáo sư thuật lại, vào ngày lịch sử đó, một số người dân Đông Bá Linh đã tìm cách vượt qua bức tường đó quá sớm nên đã bị bắn chết oan uổng. Giáo sư cũng cho hay, hai vợ chồng ông đã từng giúp đỡ một số người Việt đi hợp tác lao động bên Đông Đức tìm tới được bến bờ tự do.


Sau đó cô Kiều Liên đưa chúng tôi đi thăm Đông Đức bằng xe lửa. Chúng tôi đã được mục kích những trại tập trung thời Đức quốc xã đã đày ải con người, xương chất cao thành đống! Trải qua bao năm những vết tích bi thương ấy vẫn còn được lưu giữ, để làm bài học lịch sử cho các thế hệ mai sau.
Vợ chồng giáo sư Đảnh còn dẫn chúng tôi đến niệm Phật đường của người Việt ở Berlin. Sau đó chúng tôi cũng được gặp gỡ một số học sinh GL đầy tình quý mến, họ đã tiễn chúng tôi trở về Munich, rồi về lại Hoa Kỳ với biết bao luyến lưu và kỷ niệm!


Cô Kiều Liên giờ đây đang an dưỡng tuổi già trên đất Đức, cô sống gần gia đình người em trai tên Dũng với cô vợ là người Đức. Ba người con trai của họ gọi cô Kiều Liên là “Cô Hai” đúng giọng tiếng Việt, nghe ngọt xớt êm tai vì thắm đượm tình yêu thương…


Viết xong mùa xuân 2014
West Palm Beach-Florida.
Giao Su Huỳnh Thị Hoa

We have 416 guests and no members online